Trẻ sơ sinh cần chăm sóc đặc biệt, khi chưa thích nghi với môi trường sống mới trẻ có thể bị các bệnh nhiễm khuẩn như nhiễm trùng rốn, nhiễm trùng niêm mạc, tưa miệng, nếu không điều trị tốt rất nguy hiểm cho em bé.

1. Nhiễm trùng rốn

Rốn là nơi tiếp nhận chất bổ dưỡng nuôi cơ thể em bé khi còn trong bụng mẹ, nhưng khi sinh ra, trẻ sẽ mất một khoảng thời gian cho quá trình lành rốn và rụng. Tuy nhiên, việc chăm sóc rốn cho em bé cũng rất quan trọng, nếu không cẩn thận trẻ có thể bị nhiễm khuẩn. Nhiễm trùng rốn với các loại:

Viêm rốn: Là viêm da và tổ chức xung quanh rốn.

Biểu hiện bệnh: rốn thường rụng muộn, ướt, có mùi hôi. Giai đoạn đầu chưa có mủ, sưng tấy toàn thân, bụng chướng, rối loạn tiêu hóa. Điều trị bệnh cần để rốn hở, giữ sạch, không cho phân, nước tiểu, nước bẩn thấm vào. Rửa rốn hàng ngày bằng cồn iod 0,5 – 1% hoặc Bethadine. Nếu có mủ thì rửa bằng oxy già, bôi cồn iod và kháng sinh toàn thân.

Hoại tử rốn: Đây là bệnh tiên phát hoặc thứ phát sau viêm rốn do vi khuẩn yếm khí gây nên. Trẻ bị rụng rốn sớm. Rốn sưng đỏ, tím bầm, chảy nước mủ hoặc máu, mùi hôi, sưng tấy tổ chức xung quanh. Toàn thân suy sụp, tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc rõ. Nếu không điều trị kịp thời sẽ gây nhiễm trùng huyết, tử vong.

nhiem_khuan_ron

Rốn trẻ sơ sinh cần được chăm sóc cẩn thận để tránh nhiễm trùng rốn

Trẻ cần được đến ngay cơ sở y tế. Bác sĩ sẽ can thiệp cắt lọc tổ chức hoại tử, rạch rộng ngóc ngách, rửa rốn hàng ngày bằng oxy già, bôi cồn iod 1%, để hở. Nếu hoại tử rộng thì sẽ tiến hành chiếu tia cực tím. Điều trị toàn thân cần kháng sinh mạnh, phối hợp như nhiễm trùng huyết.

Viêm mạch máu rốn: Viêm động mạch rốn hay gặp hơn là viêm tĩnh mạch, nhưng viêm tĩnh mạch rốn thường nặng hơn và dễ dẫn tới nhiễm khuẩn các cơ quan lân cận, nhiễm khuẩn huyết. Biểu hiện là rốn thường rụng muộn, ướt, có mủ, viêm đỏ tổ chức xung quanh rốn. Trẻ sốt, kém ăn, chướng bụng, rối loạn tiêu hóa, cơ thể suy sụp.

Biến chứng thường gặp là viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết. Điều trị bệnh cần rửa rốn hàng ngày bằng oxy già, bôi cồn iod 1% và dùng kháng sinh như viêm nhiễm trùng huyết.

2. Nhiễm trùng niêm mạc

Khi trẻ có biểu hiện nhắm mắt, nề đỏ mi mắt, tiết nước hoặc chảy mủ thì có thể là triệu chứng nhiễm trùng niêm mạc. Nguyên nhân do lậu cầu (thường xuất hiện vào ngày thứ 3 – 5 sau đẻ hay chlamydia trachomatis (thường xuất hiện vào ngày thứ 5 – 15 sau đẻ), hoặc một số loại vi khuẩn khác (thường xuất hiện vào ngày thứ 1 – 2 sau đẻ).

nhiem-trung-giac-mac-o-tre-so-sinh

Nếu trẻ có biểu hiện nhắm mắt, nề đỏ mi mắt, tiết nước hoặc chảy mủ thì có thể là triệu chứng nhiễm trùng niêm mạc

Để điều trị bệnh, cần rửa mắt hàng ngày cho bé bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%. Nếu nguyên nhân do lậu cầu thì phải dùng kháng sinh toàn thân như Céphotaxime 150 mg/kg/24 giờ tiêm tĩnh mạch trong 10 – 14 ngày hoặc dùng Peniciline 75000 – 150000 đv/kg/24 giờ. Nếu do chlamydia thì dùng mỡ Erythomycine 0,5% hoặc mỡ Tetaciline 1% hoặc Rifamycine nhỏ mắt.

3. Tưa miệng

Tưa miệng khá thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh do nấm Candida albicans gây nên. Nấm thường có sẵn trong âm đạo của mẹ lây sang con. Nấm thường mọc ở mặt trên lưỡi, lúc đầu màu trắng như cặn sữa. Nếu không điều trị nấm mọc dày lên, lan rộng khắp lưỡi, mặt trong má xuống họng…

Nấm ngả màu vàng bẩn, làm trẻ đau, bỏ bú. Nấm có thể rơi vào đường tiêu hóa gây tiêu chảy do nấm hoặc rơi vào phổi gây viêm phổi do nấm, trường hợp này rất khó điều trị.

tre-bi-tua-luoi-nguyen-nhan-va-cach-dieu-tri

Khi trẻ bị tưa lưỡi, cần phát hiện và điều trị sớm để tránh gây ảnh hưởng đến đường tiêu hóa và phổi của trẻ

Nếu trẻ bị tưa nhẹ, chỉ cần dùng nước rau ngót, mật ong hoặc bicacbonat 14 ‰ chà xát vào lưỡi để đánh. Trong trường hợp tưa nhiều dùng Nystatine (500000 đv x 1/2 viên/ ngày) hòa tan, thấm vào tăm bông lau sạch lưỡi, kết hợp với uống 1/2 viên đến khi khỏi hẳn.

Trong quá trình điều trị chú ý đảm bảo đủ lượng sữa cho trẻ. Để phòng bệnh, hàng ngày nên lau miệng bằng nước muối sinh lý, sau mỗi lần bú cho trẻ uống một vài thìa nước sôi để nguội.